nhận định đúng sai luật hành chính

quan đến gian lận trong quá trình kiểm toán báo cáo tài chính (Ban hành kèm theo Thông tư số 214/2012/TT-BTC Khi kết luận rằng giả định rủi ro có sai sót trọng yếu do gian lận liên quan đến việc ghi nhận doanh thu là không phù hợp với thực tế của cuộc kiểm toán, kiểm toán Điều 126.Cửa Hàng chúng tôi cho thuê tài chủ yếu được quyền gây ra sách vở có giá nhằm kêu gọi vốn. => Nhận định này sai. Điều 112.Tài sản trong phương án thế chấp luôn luôn đề nghị là bất động sản => Nhận định này không đúng. Điều 342 BLDS.Giao dịch bảo vệ chỉ bao gồm hiệu lực thực thi pháp lý Khi được ĐK => Nhận định này không nên. 12. Án lệ là 1 loại nguồn mới của Luật hành chính. Nhận định : SAI. Gợi ý giải thích: Hiện nay án lệ chưa được coi là 1 nguồn luật mới vì chưa có 1 hệ thống án lệ nào được đưa ra ,có được áp áp dungjt hông quả hoạt động xét xử của tòa án. 300 câu nhận định đúng sai môn Lý luận Nhà nước và Pháp luật 1. Luật hành chính điều chỉnh các quan hệ về quản lý nhà nước. 2. Hoạt động chấp hành - điều hành để nhằm thỏa mãn yêu cầu của chủ thể có thẩm quyền trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước. 3. Tính chủ động và sáng tạo là thuộc tính của các cơ quan nhà nước. 4. CÂU HỎI THAM KHẢO MÔN LUẬT HÀNH CHÍNH 1 (KL303) Cho biết nhận định sau đây là đúng hay sai, giải thích tại sao: 1. "Quản lý nhà nước" là tất cả các hoạt động mang tính quyền lực nhà nước. Thứ nhất: Ai ban hành quyết định hành chính vi phạm thì được quyền hủy bỏ. Căn cứ khoản 3 - Điều 18 - Luật xử lý vi phạm hành chính: " Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp, thủ daycarenri1976. Dưới đây là câu hỏi nhận định đúng sai môn Luật tố tụng hành chính không kèm theo đáp án được biên soạn và sắp xếp theo từng chương học. Hy vọng, giúp ích cho các bạn trong quá trình theo học bộ môn này. Các nội dung liên quan Nội dung chính, câu hỏi nhận định và bài tập môn Luật Tố tụng hành chính Bài tập tình huống môn Luật Tố tụng hành chính ĐỀ MỤC Nhấn vào từng mục để di chuyển nhanh tới phần nội dung Chương I – Khái quát về luật tố tụng hành chính Việt Nam Chương II – Thẩm quyền xét xử hành chính của Tòa án nhân dân Chương III – Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng Chương IV – Người tham gia tố tụng hành chính Chương V – Khởi kiện và thụ lý vụ án hành chính Chương VI – Chuẩn bị xét xử sơ thẩm Chương VII – Xét xử sơ thẩm vụ án hành chính Chương VIII – Xét xử phúc thẩm vụ án hành chính Chương IX – Giám đốc thẩm, tái thẩm vụ án hành chính Chương I – Khái quát về luật tố tụng hành chính Việt Nam Không phải vụ án hành chính nào khi được giải quyết đều phải tuân thủ theo nguyên tăc “Khi xét xử Thâm phán và Hội thấm nhân dân độc lâp, chì tuân theo pháp luật”. Việc Thấm phán và Hội thâm nhân dân cùng nhau nghiên cứu hồ sơ vụ án là một trong những biếu hiện của sự vi phạm nguyên tắc “Khi xét xử Thấm phán và Hội thâm nhân dân độc lập, chì tuân theo pháp luật”. Tòa án nhân dân cấp trên hướng dẫn về chuyên môn aghiệp vụ cho Tòa án câp dưới không phải là biếu hiện của sự vi phạm nguyên tắc “Khi xét xử Thâm phán và Hội thâm nhân dân độc lập, chì tuân theo pháp luật”. Thành phần tham dự Hội đồng xét xử sơ thẩm không đúng theo quy định của pháp luất có thể dẫn đến trường hợp vi phạm nghiêm trọng nguyên tắc “Khi xét xử Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân độc lập, chì tuân theo pháp Iuật. Đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính đươc ban hành hoặc thực hiện đúng pháp luật vẫn có thể là đối tượng khởi kiện trong vụ á 1 hành chính. Khi giải quyết vụ án hành chính mà đối tượng khởi kiện trong vụ án hành chính là quyết định hành chính thì khi giải quyết vụ án hành ch nh bắt buộc Hội đông xét xử phải xem xét về thủ tục ban hành quyết định hành chính để có thế đưa ra phán quyết đúng đắn nhất. Hội đồng xét xử có thể đánh giá về tính lý của quyết định hành chính bị khởi kiện để có thể đưa ra phán quyết đúng đắn nhất về việc giải quyêt vụ án hành chính. Đối với vụ án hành chính có đương sự là người nước ngoài trong trường hợp họ biết sử dụng tiếng Việt thì không cần phải có người phiên dịch. Hội thẩm nhân dân tham gia vào việc giải quyết vụ án hành chính ngay khi vụ án hành chính vừa được thụ lý. Hội thẩm nhân dân tham gia vào tất cả các giai đọan của quá trình giải quyết vụ án hành chính. Hội thẩm nhân dân có tất cả các quyền như Thẩm phán khi tham gia vào quá trình giải quyết vụ án hành chính. Trong tố tụng hành chính, Kiểm sát viên chỉ có quyền thực hiện chức năng kiếm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng chính. Kiểm sát viên không được quyền thưc hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hành chính khi vụ án hành chính chưa phát sinh. Kiếm sát viên được quyền tham dự các phiên tòa, phiên họp trong tố tụng hành chính. Kiểm sát viên được quyền phát biếu ý kiến của Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án khi tham gia vào phiên tòa phiên họp giải quyết vụ án hành chính. Cơ quan nhà nước có quyền khởi kiện vụ án hành chính khi bị tác động bởi các khiếu kiện thuộc thẩm quyền của Tòa án. Không chỉ có các cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước là người bị kiện trong vụ án hành chính. Đối với khiếu kiện xâm phạm đến quyền và lợi ích họp của người chưa thành niền, người mất năng lực hành vi dân sự thì ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú có quyền cử người giám hộ đứng ra khởi kiện vụ án hành chính đế bảo vệ quyền, lợi ích họp pháp cho người đó. Tòa án có trách nhiệm thụ lý giải quyết vụ án hành chính khi cá nhân, cơ quan và tổ chức khởi kiện vụ án hành chính để yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Có trường họp trong vụ án hành chính Tòa án không giải quyết yêu câu bôi thường thiệt hại của đương sự khi đương sự có yêu cầu. Có trường hợp cá nhân, cơ quan, tổ chức không có quyền quyết định việc khởi kiện vụ án hành chính. Không phải trong trường hợp nào người khởi kiện cũng có quyền rút, thay đổi, bố sung yêu cầu khởi kiện của mình. Chỉ có đương sự mới có quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ cho Toà án và chứng minh yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp. Người làm chứng và người giám định bình đẳng với nhau về quyên và nghĩa vụ trong tô tụng hành chính Đương sự thực hiện quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự thông qua luật sư hoặc người khác. Có trường hợp căn cứ vào kết quả đối thoại Tòa án ra quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án hành chính. Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân không chỉ tuân theo pháp luật tố tụng hành chính trong quá trình giải quyết vụ án hành chính mà còn tuân thủ theo các quy định pháp luật khác. Cá nhân, cơ quan và tố chức có quyền giám sát hoạt động xét xử của Tòa án và hoạt động kiêm sát của Viện kiếm sát nhân dân trong quá trình giải quyết vụ án hành chính của Tòa án. Không phải trong trường họp nào việc xét xử của Tòa án đều được quyết định theo nguyên tắc đa số. Trong một vụ án hành chính có the người khởi kiện và người bị kiện đều là cơ quan nhà nước hoặc người có thấm quyền trong cơ quan nhà nước. Chương II – Thẩm quyền xét xử hành chính của Tòa án nhân dân Quyết định hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án phải quyết định về một vấn đề cụ thể trong hoạt động quản lý hành chính. Có trường hợp quyết định hành chính được áp dụng nhiều lần đối với các cá nhân, cơ quan và to chức có thể trở thành loại việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân theo thủ tục tố tụng hành chính. Quyết định hành chính thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án phải do cơ quan nhà nước hoặc người có thâm quyền trong cơ quan nhà nước ban hành. Tòa án nhân dân cấp huyện chỉ có thẩm quyền giải quyêt các khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan nhà nước hoặc của người có thấm quyền trong cơ quan nhà nước đó từ cấp huyện trở xuống. Tòa án nhân dân cấp huyện chỉ có thẩm quyền giải quyết đối với các khiếu kiện do cơ quan nhà nước có cùng phạm vi địa giới hành chính với Tòa án đã ban hành. Có trường hợp quyết định hành chính do Chi cục trưởng Chi cục thuế huyện ban hành nhưng lại thuộc thấm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp tỉnh. Trong mọi trường hợp việc xác định thẩm quyền giải quyết của Tòa án không phụ thuộc vào người đi khởi kiện có nơi làm việc hoặc nơi cư trú ở đâu. Trong trường hợp đối tượng khởi kiện là quyết định hành chính do cơ quan nhà nước cấp huyện ban hành thì khi xác định thấm quyền giải quyết của Tòa án không căn cứ vào nơi đặt trụ sở của người khởi kiện trong trường hợp người khởi kiện là tổ chực. Vụ án hành chính có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài có thể thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện. Việc xác định thẩm quyền theo cấp Tòa án trong một số trường hợp cần phải dựa vào nơi cư trú hoặc nơi làm việc của người khởi kiện. Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết các khiếu kiệrị hành chính của cơ quan nhà nước cấp huyện, cấp tỉnh và cấp trung ương. Nơi đặt trụ sở của tổ chức đi khởi kiện cũng là căn cứ để xác định Tòa án có thấm quyền giải quyết vụ án hành chính. Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương có thẩm quyền thụ lý giải quyết vụ án hành chính màđương sự có trụ sở đặt tại Thành phố Hà Nội. Tòa án nhân dân Quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chính Minh có thể thụ lý giải quyết vụ án hành chính trong đó người đi khởi kiện có nơi cư trú tại thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương. Trường hợp người khởi kiện không có nơi cư trú, nơi làm việc hoặc trụ sở trên lãnh thố Việt Nam thì thẩm quyền giải quyết thuộc Toà án nơi cơ quan, người có thẩm quyền ra quyết định hành chính, có hành vi hành chính. Đối với khiếu kiện quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh luôn luôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp tỉnh. Có trường hợp việc xác định thẩm quyền giải quyết của Tòa án đối với khiếu kiện quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh phải căn cứ vào nơi đặt trụ sở của cá nhân, cơ quan và tổ chức khởi kiện. Tòa án nhân dân cấp tỉnh không có thẩm quyền giải quyết khiếu kiện danh sách cử tri bầu cử đại biểu Quốc hội, danh sách cử tri bầu cử Hội đồng nhân dân các cấp. Không phải trong trường họp nào Tòa án cũng trả lại đơn khởi kiện cho người khởi kiện nếu như phát hiện vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án khác. Nếu phát hiện vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án khác trong giai đoạn xét lại bản án theo thủ tục giám đốc thẩm và tái thẩm thì Tòa án cấp giám đcc thẩm, tái tham sẽ hủy án sơ thấm hoặc phúc thấm và đình chỉ việc giải quyết vụ án hành chính. Có trường hợp người khởi kiện có đơn khởi kiện vụ án hành chính tại Toà án có thẩm quyền, đồng thời có đơn khiếu nại đến người có thẩm quyền giải quyệt khiếu nại nhưng người khởi kiện không được quyền lựa chọn cơ quan có thẩm quyền giải quyết vụ án hành chính. Việc nhập hoặc tách vụ án hành phải được các đương sự trong vụ hành chính chính đồng ý- Việc nhập hai hay nhiều vụ án hành chính thành một vụ án hành chính phải đảm bảo đảm việc xét xử vụ án được nhanh chóng, hiệu quả, triệt để và không vi phạm thời hạn chuẩn bị xét xừ. Viện kiểm sát cùng cấp với Tòa án đã nhận đơn khởi kiện có quyên giải quyết khiêu nại trong trường hợp người đi khởi kiện khiếu nại việc trả lại đơn khởi kiện của Tòa án. Chánh án của Tòa án nhân dân đã ra quyết định chuyển đơn khởi kiện của người khởi kiện là người có thấm quyền giải quyết khiếu nại lần sau cùng trong trường hợp người đi khởi kiện khiếu nại việc chuyển đơn khởi kiện vụ án hành chính. Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh có thẩm quyền thụ lý giải quyết vụ án hành chính trong trường hợp đương sự trong vụ án hành chính có trụ sở đặt tại Thành phố Hà Nội. Nơi đặt trụ sở của cơ quan nhà nước đã ban hành ra quyết định hành chính bị kiện có thế là căn cứ để xác định Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ án hành chính. Hành vi hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án phải liên quan đến việc thực hiệnmục đích nhiệm vụ công vụ được giao. Việc xác định hành vi hành chính khi nào là của cơ quan nhà nướp khi nào là của cá nhân người có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước có thể dựa chủ thể đã ký ban hành quyết định hành chính bị khởi kiện. Việc phân biệt hành vi hành chính thể hiện dưới dạng hành động hoặc không hành động là một những căn cứ để xác định Tòa án có thẩm quyền thụ lý giải quyết vụ án hành chính. Chương III – Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng Những người đã từng tham gia vào việc ban hành hoặc thực hiện các khiếu kiện hành chính thì phải bị từ chối hoặc thay đổi khi được phân công vào quá trình giải quyết hoặc kiếm sát việc giải quyết vụ án hành chính. Thư ký Tòa án có thể là cháu ruột của người khởi kiện trong vụ án hành chính. Không phải trong vụ án nào giữa Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân có mối quan hệ thân thích với nhau thì đều thuộc trường hợp phải từ chối hoặc bị thay đổi theo quy định của pháp luật. Trong trường hợp Kiểm sát viên có mối quan hệ thân thích với thư ký tòa án trong một vụ án hành chính thì Kiểm sát viên đó phải bị từ chối hoặc thay đổi. Nếu Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Kiểm sát viên được phân công xét xử phúc thẩm vụ án hành chính có người thân thích là Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Kiếm sát viên đã tham gia xét xử sơ thẩm, phúc thấm vụ án đó thì họ phải bị từ chối hoặc bị thay đối. Trong phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hành chính, Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân có mối quan hệ thân thích với nhau nhưng đương sự trong vụ án hành chính không có yêu cầu thay đổi thì phiên tòa vẫn được tiến hành theo thủ tục chung. Việc từ chối tiến hành tố tụng hoặc đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng phải được lập thành văn bản. Thẩm phán chỉ được quyền tổ chức đối thoại giữa các đương sự khi đương sự có yêu cầu. Việc thay đổi người tiến hành tố tụng thuộc về thẩm quyền của Chánh án Tòa án nhân dân hoặc Hội đồng xét xử. Việc thay đổi Kiểm sát viên luôn thuộc thấm quyền của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp. Kiểm sát viên được quyền kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tất cả các giai đoạn của quá trình giải quyết vụ án hành chính. Viện trưởng Viện kiểm sát cũng có quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tố tụng hành chính. Viện trưởng Viện kiểm sát khi đã phân công Kiểm sát viên thực hiện kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng hành chính trong một vụ án hành chính thì không được đồng thời tiến hành kiểm sát việc giải quyết vụ án đó. Trong trường hợp được sự cho phép của Thẩm phán, thư ký Tòa án cũng được quyền tham gia hỏi tại thủ tục hỏi của phiên tòa. Không phải việc xét xử án hành chính tại phiên tòa cấp sơ thẩm khi nghị án đều có sự tham gia của Hội thâm nhân dân. Hội thấm nhân dân ngang quyền với Thẩm phán nên có tất cả các quyền như Thấm phán. Chỉ có Thẩm phán mới có quyền triệu tập những người tham gia phiên tòa. Chỉ có Chánh án Tòa án mới có quyền giải quyết khiếu nại tố cáo trong tố tụng hành chính. Đối với những vụ án hành chính mà việc thi hành án liên quan đến tài sản thì thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự cũng được xem là người tiến hành tố tụng. Thư ký Tòa án là cháu ruột của người có quyền và nghĩa vụ liên quan cũng thuộc trường hợp từ chối hoặc bị thay đổi theo quy định của pháp luật tố tụng hành chính. Trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày hoãn phiên toà, Chánh án Toà án, Viện trưởng Viện kiểm sát phải cử người khác thay thế trong trường hợp có người tiến hành tố tụng bị thay đổi. Chương IV – Người tham gia tố tụng hành chính Người tham gia tố tụng hành chính có quyền và nghĩa vụ liên quan đến vụ án hành chính đang được giải quyết. Không phải vụ án hành chính nào cũng có đầy đủ những người tham gia tố tụng hành chính. Mọi cá nhân, cơ quan, tổ chức có năng lực chu thể tố tụng hành chính như nhau. Đối với đương sự từ đủ 18 tuổi trở lên thì tự mình tham gia vào các hoạt động tố tụng hành chính. Đối với người chưa thành niên thì quyền và nghĩa vụ tổ tụng được thực hiện thông qua người đại diện hợp pháp. Người chưa thành niên thì không thể trở thành người khởi kiện trong vụ án hành chính. Trong trường hợp đương sự là cơ quan, tổ chức thì thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng thông qua người đại diện hợp pháp. Có trường hợp người bị kiện trong vụ án hành chính không phải là người có quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc, quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh, lập danh sách cử tri bị khởi kiện. Người nước ngoài có thê trở thành người bị kiện trong vụ án hành chính. Phạm vi chủ thể khởi kiện vụ án hành chính đối với các loại khiếu kiện hành chính đều như nhau. Người có quyền và nghĩa vụ liên quan cũng được quyền khởi kiện vụ án hành chính vào thời điểm trước khi vụ án hành chính đang được giải quyết phát sinh. Người có quyền và nghĩa vụ liên quan cũng có các quyền và nghĩa vụ như các đương sự khác trong vụ án hành chính. Đương sự cũng được quyền nghiên cứu hồ sơ vụ án khi tham gia vào hoạt động tố tụng hành chính. Cá nhân, cơ quan và tổ chức có quyền tự mình hoặc đương sự khác đề nghị và được Toà án chấp nhận tham gia vụ án với tư cách là người có quyền và nghĩa vụ liên quan. Có vụ án hành chính mà trong đó đương sự trong vụ án đều là cơ quan nhà nước hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước. Để xác định người bị kiện trong vụ án hành chính khi nào là cơ quan nhà nước khi nào là cá nhân người có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước thì phải dựa vào thẩm quyền ban hành hoặc thực hiện khiếu kiện hành chính theo quy định của pháp luật. Có trường hợp người bị kiện trong vụ án hành chính không phải là người đã ký ban hành quyết định hành chính bị kiện. Người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan, tổ chức khác quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 3 của Luật TTHC là người có chức vụ, chức danh cụ thế và theo quy định của pháp luật thì người có chức vụ, chức danh đó mới có thẩm quyền ra quyết định hành chính hoặc có hành vi hành chính. Trường hợp có nhiều luật cùng quy định thẩm quyền ra quyết định hành chính hoặc thực hiện hành vi hành chính về một lĩnh vực quản lý thì việc xác định thẩm quyền của người bị kiện kíi nào là cá nhân, khi nào là cơ quan, tổ chức phải căn cứ vào luật chuyên ngành. Không phải trong trường hợp nào người khởi kiện cũng được quyền thay đối, bố sung hoặc rút yêu cầu khởi kiện vụ án hành chính. Người có quyền và nghĩa vụ liên quan có thể trở thành người khởi kiện trong vụ án hành chính trong trường hợp người khởi kiện rút yêu cầu khởi kiện. Việc rút yêu cẩu khởi kiện của người khởi kiện chỉ có thể được tiến hành trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm hoặc xét xử sơ thẩm vụ án hành chính. Người khởi kiện không có quyền được Tòa án thông báo về việc vụ án hành chính được thụ lý như người bị kiện. Trong trường hợp người bị kiện sửa đổi hoặc hủy bỏ quyết định hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc, quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh, danh sách cử tri bị khởi kiện; dừng, khắc phục hành vi hành chính bị khởi kiện thì vụ án hành chính sẽ bị đình chí giải quyết. Trong trường hợp người bị kiện sửa đổi quyết định bị khởi kiện thì Toà án băt buộc phải xem xét tính hợp pháp của quyết định sửa đối để có phán quyết về việc giải quyết vụ án được đúng pháp luật. Trong trường hợp người có quyền và nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập rút yêu cầu của mình thì Tòa án sẽ ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính. Việc kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng chỉ được áp dụng trong trường hợp người khởi kiện là cá nhân đã chết mà quyền, nghĩa vụ của người đó được thừa kế hoặc trường hợp người khởi kiện là cơ quan, tố chức bị hợp nhất, sáp nhập, chia, tách, giải thế. Việc kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng có thể được Tòa án chấp nhận trong giai đoạn xét xử phúc thẩm vụ án hành chính. Trường hợp người bị kiện là cơ quan, tổ chức đã giải thể mà không có người kế thừa quyền, nghĩa vụ thì Tòa án sẽ ra quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án hành chính. Người đại diện trong tố tụng hành chính có tất cả các quyền và nghĩa vụ của đương sự mà mình đại diện. Cán bộ, công chức trong các ngành Toà án, Kiểm sát, Thanh tra, Thi hành án, công chức, sĩ quan, hạ sĩ quan trong ngành Công an không được làm người đại diện trong tố tụng hành chính. Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khởi kiện và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện có quyền và nghĩa vụ như nhau khi tham gia tô tụng trong cùng một vụ án hành chính. Một người có thể cùng lúc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người khởi kiện và người có quyền và nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập trong cùng một vụ án. Người bị kiện cũng có quyền thuê luật sư tham gia tố tụng với tư cách là người đại diện theo ủy quyền. Chương V – Khởi kiện và thụ lý vụ án hành chính Vụ án hành chính sẽ không phát sinh nếu như không có việc khởi kiện vụ án hành chính. Tòa án chỉ thụ lý vụ án hành chính khi người khởi kiện đáp ứng đủ các điều kiện khởi kiện vụ án hành chính. Viện kiếm sát nhân dân không thế làm phát sinh hay chấm dứt vụ án hành chính. Khi chưa hết thời hạn giải quyết khiếu nại theo quy định của pháp luật, cá nhân, cơ quan và tổ chức không được quyền khởi kiện vụ án hành chính. Cá nhân, tổ chức có quyền khởi kiện vụ án hành chính đổi với quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh trong trường hợp không đồng ý với quyết định đó. Đổi với quyết định kỷ luật buộc thôi việc đã qua hai lần giải quyết khiếu nại thì người’’đã bị kỷ luật buộc thôi việc không được quyền khởi kiện vụ án hành chính. Trong trường hợp đơn khỏi kiện của người đi khởi kiện thiếu nội dung “Cam đoan về việc không đồng thời khiếu nại đến người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại” thì Tòa án sẽ trả lại đơn khởi kiện cho người khởi kiện. Nếu đơn khởi kiện ghi không đúng các nội dung theo quy định tại Khoản 1 Điều 107 Luật TTHC thì Tòa án có quyền trả lại đơn khởi kiện cho người khởi kiện. Các nhân, cơ quan, tổ chức khởi kiện vụ án hành chính không được ủy quyền cho cá nhân khác ký tên vào đơn khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết. Việc phân công Thấm phán xem xét đơn khởi kiện vụ án hành chính luôn thuộc vê thấm quyền của Chánh án Tòa án nhân dân. Việc trả lại đơn khởi kiện theo quy định tại điểm c Khoản 3 Điều 107 Luật TTHC chỉ được thực hiện trước khi vụ án hành chính được phát sinh. Tòa án phải chuyển đơn khởi kiện cho Toà án có thấm quyền và báo cho người khởi kiện, nếu vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án khác. Có trường hợp Tòa án phải thông báo cho người khởi kiện biết về việc Tòa án đã thụ lý vụ án. Một người chỉ trở thành người người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập khi việc giải quyết vụ án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ và yêu cầu độc lập của họ có liên quan đến vụ án đang được giải quyết. Người có quyền và nghĩa vụ liên quan không có quyền làm chấm dứt vụ án hành chính đang được Tòa án thụ lý giải quyết. Có trường hợp thời hiệu khởi kiện vụ án hành chính đối với quyết định hành chính với quyết định kỷ luật buộc thôi việc là không giống nhau. Việc tính thời hiệu khởi kiện trong vụ án hành chính phụ thuộc vào việc người khởi kiện có thực hiện việc khiếu nại trước khi khởi kiện vụ án hành chính hay không. Đối với hành vi hành chính thể hiện dưới dạng không hành động thì thời iệu khởi kiện trong vụ án hành chính được tính từ ngày hết thời hạn giải quyết theo quy định của pháp luật. . Trong trường hợp người đại diện theo pháp luật của người đi khởi kiện bị mất năng lực hành vi dân sự thì khoảng thời gian đó không tính vào thời hiệu khởi kiện. Có trường hợp người đi khởi kiện hoặc đại diện của họ không được quyền lựa chọn phương thức nộp đơn khởi kiện. Ngày khởi kiện được xác định là ngày nhận đơn khởi kiện đáp ứng được đầy đủ nội dung và hình thức theo đúng quy định của pháp luật Qua tranh luận hoặc qua nghị án, Hội đồng xét xử thấy cần phải xem xét thêm vê tài liệu, chứng cứ thì mới có thể giải quyết được vụ án thì Hội đồng xét xử có quyền tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án. Trong trường hợp người đi khởi kiện không nộp tiền tạm ứng án phí thì Tòa án sẽ trả lại đơn khởi kiện cho người khởi kiện. Trong trường hợp người đi khởi kiện kiện không đúng đối tượng khởi kiện thì Tòa án sẽ trả lại ngay đơn khởi kiện cho người khởi kiện. Nếu chưa nhận được quyết định giải quyết khiếu nại về khiếu kiện danh sách sách cử tri bầu cử đại biểu Quốc hội, danh sách cử tri bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân thì công dân không được quyền khởi kiện vụ án hành chính. Chương VI – Chuẩn bị xét xử sơ thẩm Giai đoạn chuấn bị xét xử sơ thẩm kết thúc khi Tòa án mở phiên tòa xét xử sơ thẩm. Trong trường hợp vụ án phức tạp, thời hạn chuẩn bị xét xử đối với khiếu kiện hành vi hành chính là 6 tháng kê từ ngày thụ lý vụ án. Các vụ án hành chính phức tạp hoặc có trở ngại khách quan, thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thấm đều có thế được gia hạn một lần. Đối với vụ án hành chính về khiếu kiện quyết định hành chính mà người khởi kiện là người nước ngoài, thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm là 6 tháng. Đối với khiếu kiện quyết định hành chính, không quá 6 tháng kể từ ngày thụ lý vụ án, Tồa án phải ra quyết định đưa vụ án ra xét xử. thẩm phán được phân công giải quyết vụ án phải là Thẩm phán đã thực hiện việc xem xét đơn khởi kiện và thụ lý vụ án. Đối với vụ án phức tạp hoặc việc giải quyết vụ án có thể kéo dài thì phải có Tham phán dự khuyết. Đương sự chỉ phải nộp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án theo yêu cầu của Thẩm phán khi lập hồ sơ vụ án. Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân và Kiểm sát viên đều có quyền nghiên cứu hồ sơ vụ án. Chỉ có những người tiến hành tố tụng mới có quyền nghiên cứu hồ sơ vụ án. Tất cả các Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án đều có quyền lập hồ sơ vụ án. Thông báo về việc thụ lý vụ án không được gửi cho người khởi kiện trong vụ án hành chính. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chỉ được đưa ra yêu cầu độc lập sau khi nhậ được thông báo thụ lý vụ án của Tòa án. Nếu hết thời hạn luật định người bị kiện không nộp ý kiến bằng văn bản về yêu cầu của người khởi kiện mà không có lý do chính đáng thì xem như thừa nhận các yêu cầu của người khởi kiện. Chỉ có các đương sự mới có quyền tiếp cận đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện. Khi có quyền lợi độc lập với người khởi kiện và người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền đưa ra yêu cầu độc lập. Sau khi thụ lý vụ án nếu người khởi kiện là tổ chức bị giải thể, Tòa án phải tạm đình chỉ giải quyết vụ án. Neu người khởi kiện trong vụ án hành chính chết, Tòa án phải tạm đình chỉ giải quyết vụ án hành chính. Khi người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án hành chính chết mà chưa có người kế thừa thì Tòa án phải tạm đình chỉ giải quyết vụ án. Khi người đại diện theo pháp luật cho người bị mất năng lực hành vi dân sự chết mà chưa có người đại diện khác thay thế, Tòa án phải tạm đình chỉ giải quyết vụ án. Bất kỳ Thấm phán được phân công giải quyết vụ án nào cũng có thẩm quyền ban hành quyết định đưa vụ án ra xét xử. Chỉ khi có các căn cứ được quy định tại khoản 1 Điều 118 Luật Tố tụng hành chính, Tòa án mới có thể ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án. Nếu hết thời hạn chuẩn bị xét xử mà người bị kiện không thể có mặt vì lý do chính đáng và không thuộc trường hợp có thể xét xử vắng mặt thì có quyền đề nghị Tòa án ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án. Trong trường hợp người khởi kiện đã ủy quyền cho người khác tham gia tố tụng, Tòa án không thể ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án khi hết thời hạn chuẩn bị xét xử mà người khởi kiện không thể có mặt dù có lý do chính đáng. Thời hạn tạm đình chỉ giải quyết vụ án là không xác định. Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thấm, chỉ có quyết định tạm đình chỉ và quyết định đình chỉ giải quyết vụ án mới có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm. Trong quá trình giải quyết các vụ án hành chính, nếu có các căn cứ được quy định tại khoản 1 Điều 118 Luật Tố tụng hành chính, Tòa án phải ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án. Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm, nếu một trong các đương sự chết mà quyên và nghĩa vụ không được thừa kế thì Tòa án phải đình chỉ giải quyết vụ án. Người khởi kiện rút đơn khởi kiện và phải được Tòa án chấp nhận thì vụ án hành chính mới bị đình chỉ giải quyết. Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm, nếu người bị kiện chấm dứt hành vi hành chính bị khởi kiện, Tòa án phải đình chỉ giải quyết vụ án vì đối tượng khởi kiện không còn. Sau khi thụ lý vụ án nếu phát hiện người khởi kiện không có năng lực hành vi tố tụng hành chính, Tòa án phải trả lại đơn khởi kiện cho người khởi kiện. Sau khi thụ lý vụ án, nếu phát hiện vụ việc không thuộc thẩm quyền giải quyết của mình, Tòa án đã thụ lý phải chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án khác. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án vẫn có thể trả lại đơn khởi kiện cho người khởi kiện. Sau khi thụ lý vụ án Tòa án không thể trả lại đơn khởi kiện nếu người khởi kiện chưa cung cấp đầy đủ chứng cứ. Khi Tòa án đình chỉ giải quyết vụ án do người khởi kiện rút đơn khởi kiện và được Tòa án chấp nhận, người khởi kiện không thể khởi kiện trở lại vụ án đó. Chương VII – Xét xử sơ thẩm vụ án hành chính Giai đoạn xét xử sơ thấm vụ án hành chính được tính từ khi Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án hành chính ban hành ra quyết định đưa vụ án ra xét xư sơ thẩm vụ án hành chính. Pháp luật tố tụng hành chính không quy định về thời hạn giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hành chính. Trong giai đoạn xét xử sơ thẩm nếu phát hiện các hoạt động tố tụng trước đó là không hợp pháp thì HĐXX sẽ đình chỉ việc giải quyết vụ án hành chính. Việc xét xử vụ án hành chính tại phiên tòa xét xử sơ thẩm phải luôn bảo đảm nguyên tắc xét xư trực tiếp, liên tục và bằng lời nói. Trong trường hợp đặc biệt, Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm hai Thẩm phán và ba Hội thẩm nhân dân. Qua tranh luận hoặc qua nghị án, Hội đồng xét xử thấy cần phải xem xét thêm về tài liệu, chứng cứ thì mới có thế giải quyết được vụ án thì HĐXX có quyền tạm ngừng phiên tòa. Có trường hợp Kiểm sát viên vắng mặt tại phiên tòa xét xử sơ thấm nhưng Hội đồng xét xử vẫn không hoãn phiên tòa. Có trường hợp thư ký Tòa án vắng mặt tại phiên tòa nhưng phiên tòa xét xử sơ thẩm vẫn được tiến hành bình thường. Đối với những người tham gia,tố tụng khác không nhất thiết phải có mặt tại phiên tòa xét xử sơ thấm vụ án hành chính. Phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hành chính không nhất thiết phải trải qua đầy đủ các bước chuẩn bị khai mạc phiên tòa, khai mạc phiên tòa, thủ tục hỏi tại phiên tòa, thủ tục tranh luận, thủ tục nghị án và tuyên án. Chỉ những người được HĐXX cho phép mới được quyền hỏi và trả lời tại phiên tòa sơ thẩm. Hội đồng xét xử chỉ quyền quyền đặt ra những câu hỏi liên quan đến việc xem xét tính hợp pháp của khiếu kiện bị khởi kiện. CÓ trường hợp thẩm quyền hoãn phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hành chính thuộc về thẩm quyền của Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án. Bản án, quyết định của Toà án tại phiên toà không nhất thiết phải được HĐXX thông qua tại phòng nghị án. Việc tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ án tại phiên toà tương tự như việc tạm đình chỉ và đình chỉ giải quyết vụ án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm. Hậu quả pháp lý của việc đình chỉ giải quyết vụ án tại phiên tòa sơ thẩm tương tự như việc tạm đình chỉ giải quyết vụ án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án hành chính. Có trường họp chủ thế được quyền tham gia hỏi tại phiên tòa sơ thẩm cũng được quyền tham gia tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm. HĐXX khôpg được quyền giới hạn số lượng câu hỏi và thời gian hỏi của các đương sự tại thủ tục hỏi của phiên tòa sơ thẩm. Thủ tục tranh luận là thủ tục bắt buộc tại mọi phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hành chính. Tạỉ phiên tòa sơ thấm nếu HĐXX sơ thẩm phát hiện người giám định là người thân thích với đương sự trong vụ án sẽ ra quyết định tạm ngừng phiên tòa để tìm người khác thay thế. Kiểm sát viên không được quyền tham gia tranh luận tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hành chính. Trường hợp người khởi kiện rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện nhưng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vẫn giữ nguyên yêu cầu độc lập của mình thì người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trở thành người khởi kiện. Người khởi kiện có quyền từ chối trả lời câu hỏi của Hội đồng xét xử tại thủ tục hỏi của phiên tòa sơ thẩm. Nội dung hỏi người khởi kiện và người bị kiện tại thủ tục hỏi của phiên tòa sơ thâm là như nhau. Người làm chứng phải trình bày những tình tiết của vụ án mà họ biết tại phiên tòa xét xử sơ thâm vụ án hành chính. Trong trường hợp lời khai của những người làm chứng mâu thuẫn nhau thì Hội đồng xét xử không sử dụng các lời khai đó. Nội dung tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm phụ thuộc vào việc hỏi tại phiên tòa sơ thẩm. Việc công bố các tài liệu của vụ án tại phiên tòa sơ thẩm là nghĩa vụ bắt buộc của Hội đồng xét xử. Đối với vụ án hành chính không phải xét xử lưu động, thì các hoạt động tố tụng trong phiên tòa xét xử sơ thấm phải được thực hiện tại trụ sở Tòa án. Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên toà trong trường hợp xét thấy cần thiết phải trưng cầu giám định lại. Chương VIII – Xét xử phúc thẩm vụ án hành chính Nếu không có kháng cáo hoặc kháng nghị thì sẽ không có việc xét xử phúc thẩm vụ án hành chính. Nếu Tòa án cấp sơ thẩm không ban hành ra bản án hành chính sơ thẩm thì sẽ không có việc xét xử phúc thấm. Không phải vụ án hành chính nào cũng tuân theo nguyên tắc thực hiện chế độ hai cấp xét xử. Trong một số trường hợp thì người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự cũng được thực hiện quyền kháng cáo thay cho đương sự. Người đại diẹn theo pháp luật của đương sự được quyền thực hiện quyền kháng cáo mà không cần có sự đồng ý của đương sự. Tòa án có trách nhiệm tiếp nhận đon kháng cáo chính là tòa án đã tham gia vào việc xét sơ thẩm hoặc Tòa án cấp trên của Tòa án đã xét xử sơ thấm. Neu như người kháng cáo kháng cáo toàn bộ nội dung bản án thì trong đơn kháng cáo không cần phải nêu lí do kháng cáo. Đối tượng kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thấm là như nhau. Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp và cấp trên trực tiếp có quyên kháng nghị bản án, quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ án của Toà án cấp sơ thấm đe yêu cầu Toà án cấp trên trực tiếp giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm. Thủ tục giải quyết theo thủ tục phúc thẩm đối với đối tượng kháng cáo là bản án và đối với đối tượng kháng cáo là quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án là không giống nhau. Nêu như Viện kiêm sát thực hiện việc kháng nghị theo thủ tục phúc thâm thì có thể không cần phải thông báo cho người có quyền và nghĩa vụ liên qun trong vụ án biết. Bản án, quyết định hoặc những phần của bản án, quyết định của Toà án cấp sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị thì có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Thẩm quyền phân công Hội đồng xét xử phúc thẩm thuộc về Chánh án Tòa án nhân dân cấp phúc thẩm. Hậu quả pháp lý của việc kháng cáo, kháng nghị là như nhau. Bản án, quyết định không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Tòa hành chính Tòa án nhân dân tối cao có thẩm quyền xét xử phúc thấm đối với bản án quyết định của Tòa án cấp tỉnh chưa có hiệu lực pháp luật. Hội đồng xét xử phúc thấm luôn luôn gồm 3 Thấm phán. Trong trường hợp Toà án cấp phúc thẩm ra quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án thì bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm luôn có hiệu lực pháp luật. Đối tượng mà đương sự, người đại diện của đương sự, cơ quan, tổ chức khởi kiện có quyền làm đprn kháng cáo để yêu cầu Toà án cấp trên trực tiếp giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm bao gồm bản án, quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ án của Toà án cấp sơ thẩm. Hội đồng xét xử phúc thấm sẽ sửa án sơ thẩm trong trường hợp bản án của Tòa án cấp sơ thầm không đúng theo quy định của pháp luật. Đơn kháng cáo phải do người kháng cáo ký tên hoặc điềm chỉ. Không phải phiên tòa xét xử phúc thẩm nào cũng cần phải có mặt của Kiếm sát viên. Chương IX – Giám đốc thẩm, tái thẩm vụ án hành chính Giám đốc thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật là xét xử lần 3 trong tố tụng hành chính Bản án của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật nếu phát hiện có sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật thì sẽ kháng nghị tái thẩm. Thời hạn kháng nghị Giám đốc thấm luôn là hai năm ken từ ngày bản án hành chính có hiệu lực pháp luật. Hội đồng Giám đốc thẩm chỉ xem xét phần kháng nghị được nêu trong quyết định kháng nghị. Các tìm kiếm liên quan đến nhận định đúng sai luật tố tụng hành chính 2015, bài tập tình huống môn luật tố tụng hành chính có đáp án, bài tập tố tụng hành chính có lời giải, bài tập tình huống luật tố tụng hành chính 2015, bài tập tình huống tố tụng hành chính có đáp án, ôn tập luật tố tụng hành chính, bài tập trắc nghiệm luật tố tụng hành chính, đề thi môn luật tố tụng hành chính, nhận định đúng sai luật hành chính Theo quy định của pháp luật hiện hành, các nhận định sau đây là đúng hay sai? Giải thích? 1. Luật Tố tụng hành chính điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước 2. Không phải vụ án hành chính nào khi được giải quyết đều phải tuân theo nguyên tắc "thực hiện chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm". 3. Người khởi kiện bao giờ cũng là cá nhân cho rằng quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm hại bởi các quyết định hành chính, hành vi hành chính. 4. Giám đốc Sở tài nguyên môi trường là người bị kiện trong vụ án hành chính thì có thể ủy quyền cho Chánh văn phòng Sở Tài nguyên môi trường tham gia tố tụng. 5. Thẩm phán và Thư ký phiên toàn có quan hệ yêu đương thuộc trường hợp phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi. 6. Trong mọi trường hợp, Hội đồng xét xử có thẩm quyền chuyển vụ án hành chính cho Tòa án khác nếu có đủ căn cứ cho rằng vụ án đó không thuộc thẩm quyền của Tòa án mình. Lưu ý Câu trả lời chỉ mang tính chất tham khảo Bài làm Câu 1 1. Nhận định này là Sai . Đối tượng điều chỉnh của Luật hành chính là các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước với nội dung chính là chấp hành và điều chỉnh. Căn cứ pháp lý Điều 1 Luật Tố tụng hành chính 2015 "Luật tố tụng hành chính quy định những nguyên tắc cơ bản trong tố tụng hành chính; nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; quyền và nghĩa vụ của người tham gia tố tụng, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan; trình tự, thủ tục khởi kiện, giải quyết vụ án hành chính, thi hành án hành chính và giải quyết khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hành chính." Đối tượng điều chỉnh của Luật tố tụng hành chính là các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình giải quyết các vụ án hành chính. Như vậy, "điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước" là đối tượng điều chỉnh của Luật hành chính mà không phải là đối tượng điều chỉnh của Luật tố tụng hành chính. 2. Nhận định này là Đúng . Căn cứ pháp lý Khoản 1 Điều 202 Luật Tố tụng hành chính 2015 "Bản án, quyết định đình chỉ vụ án giải quyết khiếu kiện về danh sách cử tri có hiệu lực thi hành ngay. Đương sự không có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát không có quyền kháng nghị." Trường hợp khiếu kiện danh sách cử tri bầu cử đại biểu Quốc hội, danh sách cử tri bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân, danh sách cử tri trưng cầu ý dân chỉ có một cấp xét xử là cấp sơ thẩm. Như vậy, nhận định "Không phải vụ án hành chính nào khi được giải quyết đều phải tuân theo nguyên tắc thực hiện chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm vì trường hợp Khiếu kiện danh sách cử tri chỉ có một cấp xét sử là cấp sơ thẩm. 3. Nhận định này là Sai . Căn cứ pháp lý Khoản 8 Điều 3 Luật Tố tụng hành chính 2015 " Người khởi kiện là cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện vụ án hành chính đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc, quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh; danh sách cử tri bầu cử đại biểu Quốc hội, danh sách cử tri bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân, danh sách cử tri trưng cầu ý dân sau đây gọi chung là danh sách cử tri. " Như vậy, Người khởi kiện ngoài là cá nhân còn có cơ quan, tổ chức và đối tượng khởi kiện ngoài quyết định hành chính, hành vi hành chính còn có quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh; danh sách cử tri bầu cử đại biểu Quốc hội, danh sách cử tri bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân, danh sách cử tri trưng cầu ý dân sau đây gọi chung là danh sách cử tri. 4. Nhận định này là Sai . Căn cứ pháp lý Khoản 3 Điều 60 Luật Tố tụng hành chính 2015 về Quyền, nghĩa vụ của đương sự " Trường hợp người bị kiện là cơ quan, tổ chức hoặc người đứng đầu cơ quan, tổ chức thì người bị kiện chỉ được ủy quyền cho cấp phó của mình đại diện. Người được ủy quyền phải tham gia vào quá trình giải quyết toàn bộ vụ án, thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của người bị kiện theo quy định của Luật này. " Như vậy, Giám đốc Sở tài nguyên môi trường là người bị kiện trong vụ án hành chính thì có thể ủy quyền cho Phó Giám đốc Sở Sở Tài nguyên môi trường tham gia tố tụng mà không phải là Chánh văn phòng Sở Tài nguyên môi trường. 5. Nhận định này Sai . Căn cứ pháp lý Điều 45, 46, 47 Luật Tố tụng hành chính 2015 Thẩm phán và Thư ký phiên toàn có quan hệ yêu đương không thuộc trường hợp phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi được quy định trong Luật Tố tụng hành chính 2015. 6. Nhận định này là Sai . Căn cứ pháp lý - Khoản 2, 3 Điều 34 Luật Tố tụng hành chính 2015 " 2. Trước khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục sơ thẩm mà có căn cứ xác định việc giải quyết vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án khác thì Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án hành chính ra quyết định chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án có thẩm quyền và xóa sổ thụ lý, đồng thời thông báo cho đương sự và Viện kiểm sát cùng cấp. 3. Sau khi đã có quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục sơ thẩm mà có căn cứ xác định việc giải quyết vụ án hành chính thuộc thẩm quyền của Tòa án khác thì Tòa án phải mở phiên tòa để Hội đồng xét xử ra quyết định đình chỉ việc xét xử, chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án có thẩm quyền. " - Điểm c Khoản 3 Điều 121 Luật Tố tụng hành chính 2015 " Chuyển đơn khởi kiện cho Tòa án có thẩm quyền và thông báo cho người khởi kiện nếu vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án khác;". Như vậy, trường hợp trước khi đưa vụ án ra xét xử Thẩm phán ra quyết định chuyển đơn khởi kiện nếu nếu vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án khác. Vì thế, không phải mọi trường hợp, Hội đồng xét xử có thẩm quyền chuyển vụ án hành chính cho Tòa án khác nếu có đủ căn cứ cho rằng vụ án đó không thuộc thẩm quyền của Tòa án mình mà chỉ sau khi vụ án có quyết định đưa ra xét xử. câu hỏi câu hỏi ôn tập câu trả lời hành chính luật tố tụng nhận định tố tụng hành chính Nhận định đúng sai môn luật hành chính Cập nhật 18/12/2018 0827 Lượt xem 1618 1. Chấp hành quy phạm pháp luật hành chính là hình thức chủ thể có thẩm quyền áp dụng quy phạm pháp luật buộc cá nhân tổ chức thực hiện mệnh lênh. Nhận định trên là Đúng vì Chấp hành quy phạm pháp luật hành chính là việc các cơ quan, tổ chức và cá nhân làm theo đúng những yêu cầu của quy phạm pháp luật hành chính đòi hỏi phải thực hiện. 2. Tuân thủ quy phạm pháp luật hành chính là hình thức cá nhân tổ chức phải thực hiện 1 hành vi nhất định theo yêu cầu của chủ thể có thẩm quyền Nhận định trên là Sai vì Tuân thủ quy phạm pháp luật hành chính là việc mà các cá nhân cơ quan tổ chức kiềm chế không thực hiện những hành vi mà pháp luật ngăn cấm. 3. Khi ban hành văn bản áp dụng quy phạm pháp luật hành chính thì công dân tổ chức không được trao đổi, bàn bạc với chủ thể có thẩm quyền. Nhận định trên là Sai vì Công dân, tổ chức có thể bàn bạc với chủ thể có thẩm quyền về những kiến nghị của mình, khi văn bản đó có ảnh hưởng đến quyền và lọi ích của mình. Cơ quan nhà nước có thẩm quyền bàn bạc với các cả nhân để có thể ban hành một văn bản hợp lí và có tính khả thi. 4. Quan hệ pháp luật hành chính phát sinh theo yêu cầu của chủ thể có thẩm quyền. Nhận định trên là Sai vì Quy phạm pháp luật hành chính có thể phát sinh theo yêu cầu hợp pháp của chủ thể quản lý hoặc đối tượng quản lý. Hay của công dân khi yêu cầu chủ thể có thẩm quyền hoặc có yêu cầu của riêng mình. 5. Các bên tham gia trong quan hệ pháp luật hành chính phải chịu trách nhiệm trước bên còn lại khi vi phạm yêu cầu của pháp luật hành chính. Nhận định trên là Sai vì Trong quan hệ pháp luật hành chính, bên vi phạm phải chịu trách nhiệm trước nhà nước chứ không phải chịu trách nhiệm trước bên kia của quan hệ pháp luật hành chính . + Chủ thể đặc biệt tham gia vào quan hệ pháp luật hành chính trên cơ sở quyền lực nhà nước – chịu trách nhiệm trước nhà nước sau khi sử dụng . + Chủ thể thường thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình trước bên đại diện cho nhà nước, do đó phải chịu trách nhiệm trước nhà nước về tính hợp pháp của hành vi do mình thực hiện trong quan hệ pháp luật hành chính. 6. Trong năng lực chủ thể của các chủ thể quan hệ pháp luật hành chính thì năng lực pháp luật hành chính xuất hiện trước năng lực hành vi hành chính xuất hiện sau. Nhận định trên là Sai vì Năng lực chủ thể của cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức, tổ chức khác với năng lực chủ thể của cá nhân về thời điểm phát sinh. + Năng lực chủ thể của cơ quan nhà nước phát sinh khi cơ quan đó được thành lập và chấm dứt khi cơ quan đó giải thể. + Năng lực chủ thể của cán bộ, công chức phát sinh khi cá nhân đó được nhà nước trao quyền, đảm nhiệm 1 công việc,chức vụ cụ thể trong bộ máy nhà nước, chấm dứt khi không còn đảm nhiệm công chức, viên chức. 7. Điều kiện về độ tuổi là bắt buộc đối với các chủ thể là công dân khi tham gia vào quan hệ pháp luật hành chính. Nhận định trên là Sai vì Năng lực hành vi là yếu tố biến động nhất trong cấu thành năng lực chủ thể nên theo lĩnh vực, tính chất và nội dung của quan hệ pháp luật hành chính cụ thể mà nhà nước đòi hỏi cá nhân phải đáp ứng điều kiện về độ tuổi. 8. Sự kiện pháp lí hành chính là yếu tố quan trọng nhất làm psinh thay đổi chấm dứt quan hệ pháp luật hành chính. Nhận định trên là Sai vì Quan hệ pháp luật hành chính chỉ phát sinh, thay đổi hay chấm dứt khi có đủ ba điều kiện quy phạm pháp luật hành chính+ năng lực chủ thể hành chính+ sự kiện pháp lý hành chính – Quy phạm pháp luật hành chính và năng lực chủ thể hành chính là điều kiện cần. – Sự kiện pháp lý hành chính là điều kiện đủ. Vì vậy không thể nói Sự kiện pháp lý hành chính là yếu tố quan trọng nhất đươc. 9. Chủ thể ban hành văn bản quy phạm pháp luật hành chính nhiều nhất là quốc hội Nhận định trên là Sai vì Quốc hội và Ủy ban thường vụ Quốc hội không có chức năng quản lý hành chính nhà nước do đó khó có thể ban hành các văn bản quy phạm pháp luật hành chính 1 cách cụ thể kịp thời. Cơ quan hành chính Nhà nước có chức năng quản lý hành chính Nhà nước, thực hiện hoạt động chấp hành và điều hành trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Với đối tượng quản lý rộng lớn nên đây là chủ thể ban hành văn bản quy phạm pháp luật hành chính nhiều nhất. 10. Văn bản chấp hành pháp luật là loại văn bản áp dụng hoặc thực hiện hóa phần chế tài quả quy phạm pháp luật hành chính tương ứng. Nhận định trên là Sai vì Ban hành văn bản chấp hành pháp luật, các chủ thể quản lý hành chính nhà nước áp dụng hoặc hiện thực hóa phần quy định của quy phạm pháp luật tương ứng. Ví dụ Quyết định bổ nhiệm. 11. Văn bản bảo vệ pháp luật là văn bản thực hiện hóa phần quy định của quy phạm pháp luật tương ứng nhằm thực hiện quyền và nghĩa vụ thông thường. Nhận định trên là Đúng vì Ban hành những văn bản bảo vệ pháp luật thì các chủ thể của quản lý hành chính nhà nước áp dụng hoặc hiện thực hóa phần chế tài của những quy phạm pháp luật tương ứng. Đây là hoạt động không thể thiếu để đảm bảo pháp chế và kỉ luật nhà nước. 12. Cưỡng chế là phương pháp quản lý hành chính nhà nước quan trọng nhất để nhằm thiết lập trật tự quản lý hành chính nhà nước hiệu quả Nhận định trên là Đúng vì Phương pháp này đóng một vai trò quan trọng trong quản lý HC nhà nước, nếu không có cưỡng chế thì kỷ luật nhà nước không được đảm bảo, pháp chế không được tôn trọng. 13. Hành chính là phương pháp sử dụng sức mạnh nhà nước để áp đặt lên các đối tượng quản lí buộc họ phải thực hiện 1 nghĩa vụ nhất định Nhận định trên là Sai vì Là phương pháp được chủ thể quản lý sử dụng bằng cách ra mệnh lệnh chỉ đạo xuống đối tượng quản lý. ặc trưng của phương pháp này là sự tác động trực tiếp lên đối tượng đạt được bằng cách quyết định đơn phương nhiệm vụ và phương án hoạt động của đối tượng quản lý. 14. Thuyết phục là phương pháp quản lý hành chính nhà nước hiệu quả nhất Nhận định trên là Sai vì Phương pháp quản lý hành chính nhà nước gồm nhiều phương pháp như cưỡng chế kinh tế, hành chính, mỗi phương pháp có ưu nhược điểm riêng vì vậy không thể nói thuyết phục là hiệu quả nhất mà sư việc vận dụng các phương pháp quản lý nhà nước đòi hỏi phải linh hoạt,mềm dẻo và đôi khi phải phối hợp giữa các phương pháp để đạt hiệu quả quản lí cao nhất. 15. Cưỡng chế là phương pháp sử dụng các chế tài tác động lên chủ thể vi phạm pháp luật. Nhận định trên là Sai vì Cưỡng chế là biện pháp bắt buộc bằng bạo lực do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng đối với cá nhân ,tổ chức nhằm hạn chế về tài sản hay tự do thân thể của cá nhân ,tổ chức nhất định trong thực hiện pháp luật Pl quy định cưỡng chế về vật chất hoặc nhân thân nhằm trừng trị những hành vi vi phạm pháp luật hay để phòng ngừa, ngăn chặn hành vi vi phạm pháp luật. 16. Phương pháp kinh tế là phương pháp tác động vào nhận thức làm cho đối tượng quản lý hiểu và có trách nhiệm hơn với hoạt động quản lí hành chính nhà nước. Nhận định trên là Sai vì Là phương pháp mà chủ thể quản lý dùng những khuyến khích về mặt lợi ích vật chất để cho đối tượng quản lý đem hết khả năng sáng tạo của mình hoàn thành nhiệm vụ được giao với hiệu quả cao nhấ HomeKhác15 File tổng hợp nhận định đúng sai các môn luật 2023 Nhận định đúng sai là dạng câu hỏi cực kì phổ biến được sử dụng trong quá trình học tập và thi cử đối với chuyên ngành luật. Dạng câu hỏi này rất đa dạng và đã gây ra rất nhiều khó khăn cho các bạn sinh viên trong qua trình học tập. Với dạng câu hỏi này, đòi hỏi sinh viên phải có những hiểu biết sâu rộng đối với từng môn học, kể cả trong lý thuyết và áp dụng các quy định của pháp luật. Bộ câu hỏi nhận định đúng sai của từng môn học rất đa dạng. Dưới đây, Skyluxas đã cập nhật được nhiều câu hỏi nhận định đúng sai khác nhau liên quan đến một số môn luật để các bạn tham khảo – 200 câu nhận định đúng sai môn Pháp luật đại cương. – 200 câu nhận định đúng sai môn Luật Hiến pháp. – 200 câu nhận định đúng sai Lý luận Nhà nước và Pháp luật. – 100 câu nhận định đúng sai môn Mác 2. – 100 câu nhận định đúng sai môn Luật Tố tụng hình sự. – 100 câu nhận định đúng sai Luật Thương mại quốc tế. – 100 câu nhận định đúng sai và đáp án môn Luật Thương mại. – 100 câu hỏi trắc nghiệm môn Luật Hiến pháp. – 100 câu nhận định đúng sai môn Công pháp quốc tế. – 165 câu nhận định đúng sai môn Luật Lao động. – 150 câu nhận định đúng sai môn Luật Hôn nhân và Gia đình. – 121 câu nhận định đúng sai môn Luật Hành chính. – 30 câu nhận định đúng sai Lịch sử nhà nước và pháp luật Việt Nam. – 55 câu nhận định đúng sai môn Tư pháp quốc tế. – 70 câu nhận định đúng sai và đáp án môn Luật Dân sự. , bạn nào cần thì để lại thông tin bên dưới bài viết này theo cú pháp như sau Bạn nào muốn nhân miễn phí thì để lại thông tin bên dưới theo cú pháp như sau nhé “File Word nhận định đúng sai Môn …, Địa chỉ Email …….. Ví dụ File Word nhận định đúng sai Môn Luật Hiến pháp, Đại chỉ Email thanh**

nhận định đúng sai luật hành chính